Trong số các quốc gia có môn cờ Tướng phát triển thì Việt Nam và Trung Hoa là 2 quốc gia nằm trong số đó, với thời gian khoảng trên 1.300 năm, bởi cờ Tướng hình thành ở 2 nước từ thế kỷ 7-8.
Mặc dù có tới trên 1000 năm Bắc thuộc (từ năm 179TCN-939), cờ Tướng ở Việt Nam và Trung Hoa đã hình thành và phát triển ở thế kỷ 7-8 (trong thời kỳ Bắc thuộc bởi phong kiến phương Bắc xâm chiếm Việt Nam) song vẫn có những sự khác biệt giữa cờ Tướng ở Việt Nam và Tượng kỳ ở Trung Hoa, nhất là ở thời kỳ độc lập tự chủ hoàn toàn của Việt Nam, kể từ khi Ngô Quyền xưng vương vào năm 939.
1. Sự khác nhau về tên gọi của môn cờ
Từ cổ xưa cho đến tận bây giờ người Việt Nam vẫn dùng thuật ngữ "Cờ Tướng" để chỉ môn cờ mà ở đó có 32 quân (mỗi bên gồm 16 quân viết bằng chữ Hán với 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt), được bày trên một bàn cờ với 10 đường kẻ ngang và 9 đường kẻ dọc, có cửu cung ở giữa và có dòng sông (được gọi là hà) ngăn đôi ở giữa bàn cờ. Người Việt Nam gọi tên môn cờ này theo tên gọi của quân Tướng là quân quan trọng nhất trên bàn cờ, đó là "Cờ Tướng" (General Chess).
Cũng môn cờ đó ở Trung Hoa từ xa xưa người ta gọi môn cờ này là "Tượng kỳ" theo nghĩa chữ Hán là cờ hình tượng (không phải vì có quân Tượng trên bàn cờ). Cách gọi này ở Trung Hoa có từ thời trò chơi Chaturanga mới du nhập vào Trung Hoa, khi đó các quân cờ có hình tượng và có độ cao như cờ Vua ngày nay . Sau này khi chuyển đổi thành quân cờ tròn và dẹt, có chữ Hán viết ở trên, người Trung Hoa vẫn giữ nguyên tên gọi là "Tượng kỳ" (Xiangqi).
Đó là sự khác nhau thứ nhất về tên gọi của môn cờ.

Bộ quân Tượng kỳ thời kỳ quân cờ có hình tượng
2. Sự khác nhau về tên gọi của các quân cờ
Từ xa xưa ở Việt Nam có 2 loại trò chơi mà quân của chúng gần giống hệt nhau, đó là "Cờ Tướng" và trò chơi bài lá có tên gọi là "Tam cúc".
Trong bộ bài Tam cúc có 32 quân, gồm 16 quân đỏ và 16 quân đen. Mỗi bên có 1 Tướng, 2 Sĩ, 2 Tượng, 2 Xe, 2 Pháo, 2 Mã và 5 Tốt. Chữ Hán dùng để thể hiện 7 loại quân này giống hệt nhau ở cả 2 bên và chỉ khác nhau về mầu sắc (đỏ và đen)

Từ cổ chí kim 7 loại quân cờ trên bàn cờ Tướng Việt Nam vẫn thống nhất với tên của 7 loại lá bài trong bộ Tam cúc Việt Nam là: Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt và cách viết chữ Hán cổ (Tiếng Việt cổ của người Việt Nam bao gồm 3 loại chữ: Hán, Nôm và chữ quốc ngữ) trên 7 loại quân cờ Tướng và trên bộ bài lá Tam cúc là thống nhất hoàn toàn cho cả 2 bên và chỉ phân biệt bằng màu (đỏ và đen, trắng và đen, đỏ và xanh...): Đó là bộ quân cờ Tướng của Việt Nam

7 loại quân cờ Tướng trong bộ cờ Tướng của Việt Nam là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt
có chữ Hán viết giống hệt nhau cho cả 2 bên và chỉ khác nhau bằng màu sắc
Trong bàn cờ cổ Chaturanga và trong bàn cờ Vua hiện đại, 6 loại quân (Vua, Hoàng Hậu, Xe, Tượng, Mã, Tốt) của 2 bên là giống hệt nhau và chỉ khác nhau về màu sắc (trắng và đen). Đó là cách làm khoa học và công bằng nhất.
Tướng = Tg Sĩ = S Xe = X Mã = M Tượng = T Pháo = P Tốt = B
Trong tiếng Việt có 3 quân cờ mà chữ viết tắt bị trùng nhau, đó là Tướng, Tượng và Tốt. Vì thế Luật cờ Tướng của Việt Nam đã quy định Tướng viết tắt là Tg.
Có một thời (ở nửa sau của thế kỷ 20) chúng ta đã quy định Tượng viết tắt là V (tức Voi) và Tốt viết tắt là T. Cách quy định này tránh được sự trùng lặp và lại giữ được sự trong sáng của tiếng Việt. Song từ năm 1999, sau khi có Luật cờ Tướng sửa đổi cách ghi biên bản với quân Tượng là T và với quân Tốt là B (tức Binh, âm Hán cũng có nghĩa là người lính, tức Tốt). Ghi theo cách này chúng ta đã vay mượn chữ Hán (tức Trung Hoa hóa) cả 2 từ Tượng và Binh để chỉ tên gọi của quân cờ.
Loại thứ nhất, một bên có 7 loại quân là Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Binh , còn bên kia có 7 loại quân là Soái, Sĩ, Tương, Xe, Pháo, Mã, Tốt

Sự khác nhau của 7 loại quân cờ ở 2 bên của bộ Tượng kỳ đang được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông (phía Đông Nam Trung Hoa, Hồng Kông, Ma Cao)(phía Đông Nam Trung Hoa, Hồng Kông, Ma Cao)
Như vậy cả 7 loại quân cờ của 2 bên khác nhau hoàn toàn về chữ viết. Loại quân Tượng kỳ này thường được lưu hành ở vùng nói tiếng Quảng Đông, chủ yếu là ở vùng Đông Nam Trung Hoa xưa, Hồng Kông, Ma Cao… Hiện nay một số người Hoa sinh sống ở Việt Nam, có nguồn gốc, quê hương xa xưa từ Quảng Đông, Phúc Kiến thường hay sử dụng loại quân Tượng kỳ này.


Hình dưới là ảnh chụp ván cờ của trận chung kết Giải vô địch cờ Tướng chợ phiên Hà Nội 1953, thi đấu tại khu vực Võ sĩ đoàn, đối diện với nhà hàng Thủy Tạ bên bờ hồ Hoàn Kiếm, giữa danh thủ Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội, bên đi trước) và danh thủ Đặng Đình Yến (Hà Nội, bên đi sau, người đã thắng ván cờ này và đoạt giải quán quân 1953). Sau 4 nước đi đầu tiên biên bản ván cờ được ghi (theo 3 cách để có sự so sánh: trước 1955, trước 1999 và từ 1999 đến nay) như sau:
Bên đi trước: Nguyễn Tấn Thọ (Hà Nội), Bên đi sau: Đặng Đình Yến (Hà Nội)
|
Cách ghi biên bản trước năm 1955 |
Cách ghi biên bản trước năm 1999 |
Cách ghi biên bản từ năm 1999 đến nay |
|
1. Mg8 (Mã g8) ... Mc3 (Mã c3) 2. Tg6 (Tốt g6) ... Tc5 (Tốt c5) 3. Xi9 (Xe i9) ... Mg3 (Mã g3) 4. Xd9 (Xe d9) |
1. M2+3 (Mã 2 tiến 3) ... M2+3 (Mã 2 tiến 3) 2. T3+1 (Tốt 3 tiến 1) ... T3+1 (Tốt 3 tiến 1) 3. X1+1 (Xe 1 tiến 1) … M8+7 (Mã 8 tiến 7) 4. X1.6 (Xe 1 bình 6) |
1. M2.3 (Mã 2 tiến 3) … M2.3 (Mã 2 tiến 3) 2. B3.1 (Tốt 3 tiến 1) … B3.1 (Tốt 3 tiến 1) 3. X1.1 (Xe 1 tiến 1) … M8.7 (Mã 8 tiến 7) 4. X1-6 ( Xe 1 bình 6) |
Qua cách ghi biên bản ván cờ của 3 thời kỳ khác nhau ta thấy rằng cách ghi biên bản ván cờ Tướng truyền thống của Việt Nam trước năm 1955 là hết sức khoa học: ghi theo tọa độ của điểm mà quân cờ sẽ đi đến mà không cần có thêm các ký hiệu tiến, thoái, bình nữa. Cách ghi biên bản này gần giống với cách ghi biên bản cờ Vua ngày nay.
Tại Việt Nam, kỹ thuật sử dụng voi chiến đã có từ khá sớm. Các tài liệu Việt Nam và Trung Quốc từng ghi nhận trong cuộc khởi nghĩa ở Mê Linh của Hai Bà Trưng năm 40 (thế kỷ 1 sau Công nguyên) đã sử dụng lực lượng voi chiến đánh lại quân nhà Đông Hán. Rất nhiều hình ảnh ghi nhận Hai Bà chỉ huy trên mình voi . Một hình ảnh tương tự ghi nhận rằng Bà Triệu năm 248 cũng sử dụng voi chiến trong cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô (thời Tam Quốc).

Năm 40, Hai Bà Trưng (Việt Nam) đánh đuổi Tô Định (Đông Hán, Trung Hoa)
Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, voi chiến được xem là một lực lượng đặc biệt sử dụng trong chiến trận. Do thế phòng thủ trước các triều đại phương Bắc, vốn không có tượng binh, thì ưu thế của phía Việt Nam về lực lượng tượng binh là rõ rệt, chẳng hạn như việc sử dụng tượng binh trong chiến dịch nghĩa quân Lam Sơn ra Bắc hay quân Tây Sơn công phá thành Ngọc Hồi vào ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/1/1789. Sự phát triển vượt bậc chính là sự kiện vua Quang Trung đã đặt pháo trên lưng voi trong chiến dịch đánh thành Ngọc Hồi làm quân Mãn Thanh phải khiếp sợ. Thực tế là các lực lượng quân sự Việt Nam đã huấn luyện và sử dụng lực lượng voi chiến trong cả nghìn năm lịch sử.

Nghi vệ voi chầu của triều đình Huế

Voi được đưa ra sân đấu tại Hổ quyền ở kinh thành Huế
Ở Trung Hoa, việc sử dụng những con voi chiến tương đối hiếm so với các nơi khác. Những ghi chép sớm nhất về việc sử dụng voi của họ diễn ra vào cuối năm 554 khi nhà Tây Ngụy triển khai hai con voi chiến mặc giáp sắt từ Lĩnh Nam trong trận chiến, điểu khiển bởi những nô lệ Mã Lai, và được trang bị tháp bằng gỗ và những thanh gươm gắn chặt vào cái vòi của chúng. Các con voi đã phải quay đầu bỏ chạy bởi các mũi tên của cung thủ.

Vì sự trong sáng của Tiếng Việt và vì sự giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam trong môn cờ Tướng, mong rằng ngành Thể dục thể thao và Liên đoàn Cờ Việt Nam sớm có những điều chỉnh thích hợp với các bộ quân cờ đang được sử dụng thi đấu và cách ghi biên bản ván cờ bằng tiếng Việt trong các giải đấu phong trào và đỉnh cao ở Việt Nam./.
(Theo: vietnamchess.vn-PGS.TS Lưu Đức Hải)
0935.162.803 (HLV Bùi Văn Hiếu)